Từ chiêm đoán sự việc đến bản thể luận: khoảng cách giữa Bói Dịch và Lý Dịch
Bói Dịch tách khỏi Lý Dịch dễ thành cái bẫy của bản ngã. Kinh Dịch là đạo học về sự vận hành Âm Dương: thấy hung thì thu liễm tu thân, thấy cát thì khiêm nhường giữ mình.
Bói Dịch tách khỏi Lý Dịch dễ thành cái bẫy của bản ngã. Kinh Dịch là đạo học về sự vận hành Âm Dương: thấy hung thì thu liễm tu thân, thấy cát thì khiêm nhường giữ mình.
Phù chú hay trận pháp suy cho cùng là năng lượng. Dùng ý niệm vị ngã để vận hành là đánh đổi sinh mệnh lực; chư Tổ dùng pháp khí, vật trấn yểm để mượn lực thiên địa định cục.
Điều khó nhất không phải là hành pháp mà là nhìn đúng bản chất cục diện. Luận cứ đi trước: luận đúng thế cục, nhận đúng thế sát, rõ điều kiện cần và đủ rồi mới hành sự.
Có lý mới luận, có luận mới dụng. Khẩu quyết “Thiên Địa định vị – Sơn Trạch thông khí – Thủy Hỏa bất tương xạ” và việc Càn Khôn nạp hai Can đều quy về một gốc: quy luật vận hành của Âm Dương.
Việc đầu tiên khi đến một công trình không phải mở la kinh, mà là quán sát cục địa: Loan đầu, Âm – Dương, thế sát, dòng khí ngoại cục vào nội cục. Biết dụng thì la kinh mới là pháp khí.
Lập cực một ngôi gia không thể lấy trọng tâm hình học của mặt bằng. Phải thấu dòng lưu khí theo Hà Đồ, phối hợp Thể và Dụng, và lập cực trong từng tiểu thái cực.
Lá bùa gồm phần hình và phần chú, nhưng năng lượng đến từ đâu mới là điều cốt lõi: dùng sinh mệnh lực của bản thân thì hao tổn thọ mệnh, hiểu đạo thì biết mượn lực thiên địa.
Nhất mệnh – nhì vận – tam phong thủy – tứ tích âm đức – ngũ độc thư không phải năm phạm trù tách biệt mà là một hệ thống có thứ tự. Hiểu mệnh lý để cải vận, không phải cãi vận.
Mọi thứ quy về hai chữ ý niệm. Cải vận không phải làm đời trọn vẹn theo mọi mong cầu, mà là nhận ra và giảm bớt khiếm khuyết – thay đổi được đến đâu tùy sự rèn thân, sửa tâm.
Người học thuật chân chính phân biệt lý luận nguyên gốc với sự hợp lý thêu dệt đánh vào tham – sợ. Cải vận vẫn phải thuận thiên; người thầy đúng nghĩa chọn đứng phía sau học trò.